AA

AA AA AA
Thư viện pháp luật | 07/08/2017 09:49

Từ 1/8 tăng mức xử phạt vi phạm giao thông?

PhapluatNet Trước thông tin bắt đầu từ ngày 1/8 sẽ "tăng mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt", Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an khẳng định mức phạt vi phạm giao thông sẽ không thay đổi. 

Mới đây, một số thông tin đăng tải trên mạng internet cho rằng mức phạt vi phạm giao thông sẽ tăng từ 1/8.

Trước luông thông tin này, Cục CSGT khẳng định: “Mức phạt kông thay đổi, không tăng nặng. Mức xử phạt hành chính vẫn áp dụng theo Nghị định 46/2016/NĐ-CP”.

Theo đó, Cục CSGT cho biết, Nghị định 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt đã có hiệu lực thi hành từ 1/8/2016 nên mức xử lý vi phạm giao thông sẽ không có thay đổi. 

Ngoài ra, còn có một số hành vi vi phạm giao thông sẽ lùi thời hạn xử phạt đến ngày 1/1/2018, như: Không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô.

Với hành vi không thắt dây an toàn trên xe ô tô đang chạy cũng sẽ lùi xử phạt và áp dụng kể từ ngày 1/1/2018.

Căn cứ vào Nghị định 46 có quy định cụ thể: 

Trong trường hợp “không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông” và hành vi vi phạm “khi tín hiệu đèn giao thông đã chuyển sang màu đỏ nhưng không dừng lại trước vạch dừng mà vẫn tiếp tục đi, trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng trước khi tín hiệu đèn giao thông chuyển sang màu vàng” của người điều khiển xe ô tô, xe mô tô, xe gắn mày, máy kéo, xe máy chuyên dùng lại thành một hành vi “không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông” (điểm a khoản 5 Điều 5, điểm c khoản 4 Điều 6, điểm g khoản 4 Điều 7) sẽ bị phạt như sau: 

+ Phạt tiền 1.200.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông (Điểm a Khoản 5 Điều 5).

+ Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông (Điểm c Khoản 4 Điều 6).

Không tăng mức xử phạt vi phạm giao thông từ 1/8/2017. 

Về cơ bản, Nghị định 46 giữ nguyên mức phạt tiền như Nghị định 171/2013/NĐ-CP và Nghị định 107/2014/NĐ-CP, và chỉ tăng mức phạt đối với một số nhóm hành vi như: 

Nhóm vi phạm về nồng độ cồn:

+ Đối với ô tô: Tăng mức phạt tiền đối với người điều khiển xe ô tô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở (điểm a khoản 9 Điều 5) từ 10.000.000 – 15.000.000 đồng lên 16.000.000 – 18.000.000 đồng thời tăng thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 02 tháng lên khung từ 04 tháng đến 06 tháng;

+ Đối với mô tô: Tăng mức phạt tiền đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở (khoản 6 Điều 6) từ 500.000 – 1.000.000 đồng lên 1.000.000 – 2.000.000 đồng; tăng mức phạt tiền đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở (điểm c khoản 8 Điều 6) từ 2.000.000 – 3.000.000 đồng lên mức 3.000.000 – 4.000.000 đồng và tăng thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 02 tháng lên khung từ 03 tháng đến 05 tháng.

+ Đối với ô tô: Tăng mức phạt tiền đối với người điều khiển xe ô tô điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h đến 35 km/h từ mức 4.000.000 – 6.000.000 đồng lên mức từ 5.000.000 – 6.000.000 đồng (điểm a khoản 7 Điều 5);

+ Đối với mô tô: Tăng mức phạt tiền đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h từ mức 2.000.000 – 3.000.000 đồng lên mức 3.000.000 – 4.000.000 đồng.

Nhóm hành vi vi phạm trên đường cao tốc:

+ Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy đi vào đường cao tốc (điểm b khoản 5 Điều 6): ăng mức phạt tiền từ 200.000 – 400.000 đồng lên mức 500.000 – 1.000.000 đồng; bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng;

+ Điều khiển xe máy, xe đạp, xe thô sơ đi vào đường cao tốc: tăng mức phạt tiền từ 100.000 – 200.000 đồng lên mức từ 400.000 – 600.000 đồng;

+ Người đi bộ đi vào đường cao tốc: tăng mức phạt tiền từ 80.000 – 100.000 đồng lên mức từ 100.000 – 200.000 đồng;

+ Người điều khiển xe ô tô không tuân thủ các quy định về dừng xe, đỗ xe trên đường cao tốc; khi dừng xe, đỗ xe trên đường cao tốc không đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm theo quy định (điểm c khoản 7 Điều 5): tăng từ 800.000 – 1.200.000 đồng lên 5.000.000 – 6.000.000 đồng.

P. V (tổng hợp)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Ý kiến các bạn đọc
Thư viện pháp luật | 18/11/2017 10:20

Mức phạt vi phạm giao thông đi xe máy lên vỉa hè

Thư viện pháp luật | 18/11/2017 10:20

PhapluatNet Vào giờ cao điểm tại các thành phố lớn, do bị tắc đường nên không ít người đã tự ý đi xe máy lên vỉa hè và bị cảnh sát giữ xe hoặc xử phạt. Vậy hành vi đi xe trên vỉa hè có phải là hành vi vi phạm luật giao thông hay không và và mức phạt là bao nhiêu?

Theo khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã quy định, người tham gia giao thông phải đi về bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống đèn, biển báo hiệu đường bộ.

Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định về mức xử phạt vi phạm giao thông đường bộ và đường sắt, tại Khoản 4 của Điều 6, xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy từ 300.000 - 400.000 đồng khi thực hiện hành vi vi phạm sau đây:

đi xe máy trên vỉa hè

+  Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi; đi không đúng phần đường, làn đường đã quy định hoặc điều khiển xe đi trên vỉa hè, trừ trường hợp như điều khiển xe đi qua hè phố để vào trong nhà.

+ Theo điểm c khoản 12 Điều 6 Nghị định này, nếu thực hiện hành vi đi xe máy trên vỉa hè mà gây tai nạn giao thông thì ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe còn bị áp dụng các hình thức xử phạt khác là tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 2 đến 4 tháng.

Căn cứ theo các quy định trên, nếu đi trên vỉa hè sẽ bị lực lượng chức năng xử phạt từ 300.000 - 400.000 đồng; nếu gây tai nạn, ngoài phạt tiền sẽ bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 2 đến 4 tháng.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Thư viện pháp luật | 17/11/2017 15:03

Mức phạt vi phạm nồng độ cồn với người tham gia giao thông đường bộ

Thư viện pháp luật | 17/11/2017 15:03

PhapluatNet Chỉ cần trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn mà còn điều khiển các loại phương tiện tham gia giao thông thì người tham gia giao thông sẽ bị phạt ít nhất 2 triệu đồng và có thể lên tới 18 triệu đồng.

Căn cứ theo Nghị định 46/2016/NĐ-CP, các mức phạt liên quan đến hành vi vi phạm nồng độ cồn "lái xe khi đã uống rượu, bia" như sau:

1. Mức phạt nồng độ cồn với xe máy

- Phạt tiền từ 1.000.000 - 2.000.000 đồng với người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả phương tiện là xe máy điện), các loại xe tương tự như xe môtô, xe gắn máy trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 1-3 tháng.

- Phạt tiền 3.000.000-4.000.000 đồng với người điều khiển xe không chấp hành yêu cầu kiểm tra của người thi hành công vụ về ma túy, nồng độ cồn; hoặc điều khiển xe ô tô tham gia giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. Ngoài ra, người điều khiển xe còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 3-5 tháng.

2. Mức phạt nồng độ cồn đối với ô tô và các phương tiện giống ô tô

- Phạt tiền từ 2.000.000 - 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở. Bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 1-3 tháng.

- Phạt tiền từ 7.000.000 - 8.000.000 đồng đối với người điều khiển ô tô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 3-5 tháng.

- Phạt tiền từ 16.000.000 - 18.000.000 đồng đối với người điều khiển ô tô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở; hoặc không chấp hành yêu cầu kiểm tra của người thi hành công vụ về nồng độ cồn. Và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 4-6 tháng.

P.V (Tổng hợp)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Hỏi đáp | 16/11/2017 16:09

Không đội mũ bảo hiểm bị phạt bao nhiêu tiền?

Hỏi đáp | 16/11/2017 16:09

PhapluatNet Theo pháp luật thì không mang theo giấy phép lái xe, không đội mũ bảo hiểm khi điều khiển mô tô, xe gắn máy sẽ bị phạt bao như thế nào?

Hình phạt không đội mũ bảo hiểm

Căn cứ vào Điều 21 về xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới có quy định như sau:

“…2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

Hình phạt cho người không đội mũ bảo hiểm.

Điều 6 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định về người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, theo đó:

“3. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

…i) Người điều khiển, người ngồi trên xe "không đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy" hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ;

k) Chở người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

l) Chở theo 02 (hai) người trên xe, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;…”

Hình phạt đối với việc không có giấy phép lái xe

Căn cứ Điều 58 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định điều kiện của người lái xe khi tham gia giao thông: Người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ như đăng ký xe, giấy phép lái xe (GPLX) đối với người điều khiển xe cơ giới quy định tại Điều 59 của luật này; giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới quy định tại Điều 55 của luật này; giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới”.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 21 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới.

“3. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô không mang theo giấy phép lái xe, trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 7 điều này;

b) Người điều khiển ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô không mang theo giấy đăng ký xe;

c) Người điều khiển ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô không mang theo giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (đối với loại xe có quy định phải kiểm định)”.

M. Tuệ (Tổng hợp)

 

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Hỏi đáp | 14/11/2017 16:49

Nhận tội thay con, mẹ phạm tội gì?

Hỏi đáp | 14/11/2017 16:49

PhapluatNet Biết con giết người, nhưng vì thương con người mẹ ra đầu thú nhận tội thay con. Như vậy, người mẹ phạm tội gì?

Biết chuyện người cậu  - ông M. đến nhà đập phá đồ đạc, đánh bố mẹ mình. H. đã bảo mẹ gọi điện cho ông M. tới nói chuyện và thủ sẵn con dao nhằm ý định đe dọa người cậu.

Nhưng khi cậu tới, H. lại nổi nóng tuýp sắt đập vào xe máy của cậu. Bị người cậu đánh lại, H. dùng dao đâm liên tiếp 3 nhát khiến nạn nhân tử vong.

Sau khi sự việc xảy ra, thương con, mẹ của H. đã cơ quan chức năng tới đầu thú, tự nhận mình là người gây ra án mạng bằng hai nhát dao.

Tuy nhiên, lời khai này lại không khớp với kết quả khám nghiệm tử thi cùng các chứng cứ khác. Bằng các biện pháp nghiệp vụ, cơ quan công an đã nhanh chóng phát hiện ra hung thủ đích thực là H.

Ảnh minh họa.

Liên quan đến vấn đề này, các luật sư cho rằng, việc người mẹ đến cơ quan chức năng đầu thú để nhận tội thay con là có dấu hiệu của tội che giấu tội phạm theo Điều 313, Bộ luật Hình sự.

Luật sư Đoàn Mạnh Hùng cho biết, theo quy định của pháp luật, hành vi che giấu tội phạm có thể được thực hiện dưới một trong các hình thức sau:

+ Thứ nhất, che giấu người phạm tội: Che giấu người phạm tội là biết rõ một người đã thực hiện một tội phạm nhưng đã chứa chấp, nuôi giấu trong nhà mình, tìm địa điểm cho người phạm tội ẩn náu để không bị bắt, giúp đỡ người phạm tội bỏ trốn, giúp người phạm tội thay hình đổi dạng để tránh sự truy tìm, phát hiện của mọi người hoặc có những hành vi khác che giấu người phạm tội.

+ Thứ hai, che giấu các dấu vết của tội phạm: Một tội phạm xảy ra bao giờ cũng để lại các dấu vết, các dấu vết mà tội phạm để lại có ý nghĩa rất quan trọng cho việc chứng minh tội phạm, từ dấu vết mà cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra thủ phạm. Thông thường, người thực hiện hành vi phạm tội tự mình xóa các dấu vết, nhưng cũng nhiều trường hợp người phạm tội do không kịp xóa các dấu vết nên sau khi phạm tội đã nhờ người khác hoặc tuy không được nhờ nhưng người khác tự mình xóa các dấu vết của tội phạm nhằm che giấu hành vi phạm tội của người đã thực hiện tội phạm đó.

+ Thứ ba, che giấu tang vật của tội phạm: Tang vật của vụ án là công cụ, phương tiện mà người phạm tội dùng vào việc thực hiện tội phạm. Che giấu tang vật là hành vi cất giấu, hủy hoại hoặc làm biến dạng công cụ, phương tiện mà người phạm tội dùng vào việc thực hiện tội phạm.

+ Thứ tư, hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội: Cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội là không muốn cho tội phạm bị phát hiện, xử lý theo pháp luật. Hành vi cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội rất đa dạng như: lợi dụng chức vụ, quyền hạn từ chối cung cấp các tài liệu, sổ sách, giấy tờ có liên quan đến tội phạm; từ chối cung cấp địa chỉ, nơi ở của người phạm tội đang ẩn náu mà mình biết rõ; dùng quyền hành để dụ dỗ, mua chuộc, cưỡng ép người khác không khai báo, không cung cấp tài liệu cho cơ quan tiến hành tố tụng…

Theo quy định tại khoản 1 Điều 313 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm, là tội phạm nghiêm trọng.

Nhưng một số ý kiến lại cho rằng, người mẹ phạm đã phạm tội khai báo gian dối theo Điều 307, Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 307, Bộ luật hình sự lại có quy định:

"Tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật

1. Người giám định, người phiên dịch, người làm chứng nào mà kết luận, dịch, khai gian dối hoặc cung cấp những tài liệu mà mình biết rõ là sai sự thật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

M. Tuệ (Tổng hợp)

 

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn