AA

AA AA AA
Thư viện pháp luật | 31/10/2017 10:34

Những chính sách nổi bật có hiệu lực từ tháng 11/2017

PhapluatNet Bắt đầu từ tháng 11/2017 nhiều chính sách sẽ chính thức có hiệu lực. Đáng chú ý có quy định về việc cấm bán rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên qua mạng Internet hoặc quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực phòng chống thiên tai.

1. Cấm bán rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên qua mạng Internet

Nội dung này được quy định tại Nghị định 105/2017/NĐ-CP về kinh doanh rượu được Chính phủ ban hành ngày 14/9/2017.

Theo đó, các hành vi bị cấm trong hoạt động kinh doanh rượu bao gồm:

- Bán rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên qua mạng Internet (quy định hiện hành cấm bán tất cả các sản phẩm rượu qua mạng mà không phân biệt độ cồn);

- Bán rượu cho người dưới 18 tuổi, bán bằng máy bán hàng tự động;

- Quảng cáo, khuyến mại rượu trái quy định;

- Kinh doanh rượu không có Giấy phép kinh doanh hoặc không đúng với nội dung ghi trong giấy phép;

- Cho thuê, cho mượn Giấy phép kinh doanh,…

2. Phạt 8 triệu đồng khi đổ rác thải vào vào trình thủy lợi

Đây là một trong những quy định tại Nghị định 104/2017/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai; khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều.

Cụ thể, nếu đổ rác thải, chất thải vào công trình thủy lợi sẽ bị xử phạt như sau:

- Phạt cảnh cáo đối với hành vi đổ rác thải, chất thải vào công trình thủy lợi với khối lượng dưới 0,5 m3;

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai.

- Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi đổ rác thải, chất thải vào công trình thủy lợi với khối lượng từ 0,5 m3 đến dưới 1 m3;

- Phạt tiền từ 1 triệu đến 2 triệu đồng đối với hành vi đổ rác thải, chất thải vào công trình thủy lợi với khối lượng từ 01 m3 đến dưới 03 m3;

- Phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 4 triệu đồng đối với hành vi đổ rác thải, chất thải vào công trình thủy lợi với khối lượng từ 03 m3 đến dưới 05 m3;

- Phạt tiền từ 4 triệu đồng đến 8 triệu đồng đối với hành vi đổ rác thải, chất thải vào công trình thủy lợi với khối lượng từ 05 m3 trở lên.

3. Đổi mới điều kiện cấp Giấy phép bán lẻ sản phẩm thuốc lá

Nghị định 106/2017/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 67/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 hướng dẫn thi hành Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá về kinh doanh thuốc lá.

Theo đó, để được cấp Giấy phép bán lẻ sản phẩm thuốc lá (SPTL), thương nhân phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Được thành lập theo quy định pháp luật;

Bãi bỏ điều kiện diện tích điểm kinh doanh thuốc lá.

- Có địa điểm kinh doanh cố định, địa chỉ rõ ràng, đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật, trang thiết bị theo quy định;

- Phù hợp với Quy hoạch hệ thống mạng lưới mua bán SPTL được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

- Có văn bản giới thiệu của các thương nhân phân phối hoặc thương nhân bán buôn SPTL ghi rõ địa bàn dự kiến kinh doanh (không cần hợp đồng mua bán của các doanh nghiệp bán buôn SPTL như hiện nay).

Đồng thời, Nghị định 106/2017/NĐ-CP đã bãi bỏ điều kiện diện tích điểm kinh doanh thuốc lá phải từ 3m2 trở lên trong điều kiện cấp giấy phép.

Đối với Giấy phép bán lẻ SPTL được cấp theo Nghị định 67 vẫn tiếp tục duy trì hiệu lực đến khi hết thời hạn.

Theo điều kiện cấp Giấy phép bán lẻ sản phẩm thuốc lá hiện hành có quy định:

a) Thương nhân có đăng ký ngành nghề kinh doanh bán lẻ sản phẩm thuốc lá;

b) Có địa điểm kinh doanh cố định, địa chỉ rõ ràng, đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật, trang thiết bị theo quy định;

c) Diện tích điểm kinh doanh dành cho thuốc lá tối thiểu phải có từ 03 m2 trở lên;

d) Có văn bản giới thiệu, hợp đồng mua bán của các doanh nghiệp bán buôn sản phẩm thuốc lá;

đ) Phù hợp với Quy hoạch hệ thống mạng lưới mua bán sản phẩm thuốc lá được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

P.V (Tổng hợp)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Ý kiến các bạn đọc
Thư viện pháp luật | 23/11/2017 14:32

Xử phạt phương tiện đi vào làn xe buýt nhanh BRT

Thư viện pháp luật | 23/11/2017 14:32

Việc đi các phương tiện ô tô, xe máy vào phần đường của BRT chính là lỗi “đi không đúng phần đường hoặc làn đường theo quy định”. 

Với ô tô: Điểm c Khoản 4 Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định rõ về Xử phạt người điều khiển, người được chở trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ: “Phạt tiền từ 800.000 - 1.200.000 đồng, đối với người điều khiển xe đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định”.

Đối với xe máy: Điểm g Khoản 4 Điều 6 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định rõ về xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy kể cả xe máy điện), vi phạm quy tắc giao thông đường bộ: “Phạt tiền từ 300.000 - 400.000 đồng đối với hành vi đi không đúng phần đường, làn đường quy định”.

Ảnh minh họa

Đối với phương tiện như máy kéo, xe chuyên dùng: Điểm c Khoản 3 Điều 7 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng (sau đây gọi chung là xe) vi phạm quy tắc giao thông đường bộ: “Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định, (trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm d Khoản 4 Điều này).

Đi vào làn xe buýt nhanh BRT. Không tuân thủ các quy định khi vào, ra đường cao tốc; điều khiển xe chạy ở làn dừng xe khẩn cấp hoặc phần lề của đường cao tốc; quay đầu, lùi xe trên đường cao tốc; chuyển làn đường sai phép hoặc không có tín hiệu báo trước; không tuân thủ quy định về khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước khi chạy trên đường cao tốc”.

Đối với xe đạp: Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 8 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác vi phạm quy tắc giao thông đường bộ (đi vào phần đường của BRT): “Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 60.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây đi không đúng phần đường quy định”.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Hỏi đáp | 23/11/2017 09:20

Xử phạt lỗi không mang giấy tờ xe và không có giấy tờ xe

Hỏi đáp | 23/11/2017 09:20

PhapluatNet Người điều khiển xe mô tô xe gắn máy, các loại xe tương tự như xe mô tô và các loại xe tương tự như xe gắn máy phải mang theo Giấy phép lái xe khi tham gia giao thông...

Câu hỏi: 
Em đi xe máy đi công việc nhưng lại quên không mang giấy tờ xe. Bị CSGT thổi phạt lập biên bản vi phạm hành chính về lỗi không có giấy phép lái xe, lỗi không có giấy đăng ký xe, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và hẹn 07 ngày sau đến trụ sở làm việc.

Tuy nhiên do bận việc nên 10 ngày sau em mới đến cơ quan Công an để giải quyết, em có trình giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe, bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo yêu cầu tuy nhiên vẫn bị CSGT xử phạt lỗi không có giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe, bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Em có thắc mắc là tại sao bị xử lý là lỗi không có, trong khi đó em chỉ quên không mang theo, CSGT giải thích bảo theo Nghị định 171/2013/NĐ-CP. Em có tìm hiểu nhưng không thấy quy định nào như vậy, xin hỏi CSGT xử phạt như vậy có đúng không? 

Xử phạt lỗi không mang giấy tờ xe
(Ảnh minh họa)

Trả lời tư vấn:

Căn cứ theo quy định tại nghị định 171/2013/NĐ-CP, lỗi không mang giấy phép lái xe, đăng ký xe và bảo hiểm trách nhiệm dân sự khác hoàn toàn với lỗi không có giấy phép lái xe, đăng ký xe và bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Tại điều 5 nghị định 171/2013/NĐ-CP có quy định cụ thể:

- Phạt tiền từ 80.000 - 120.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

+ Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự như xe mô tô và các loại xe tương tự như xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

+ Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự như xe mô tô và các loại xe tương tự như xe gắn máy không mang theo Giấy đăng ký xe;

+  Người điều khiển xe mô tô xe gắn máy, các loại xe tương tự như xe mô tô và các loại xe tương tự như xe gắn máy không mang theo Giấy phép lái xe...

- Phạt tiền từ 800.000 - 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe hoặc Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp phép, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa thông tin, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 7.

Trường hợp trên bạn không mang các giấy tờ xe khi tham gia giao thông nhưng khi CSGT lại lập biên bản vi phạm hành chính về lỗi không có giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe, bảo hiểm trách nhiệm dân sự nhưng bạn vẫn ký. Việc bạn ký vào biên bản chính là xác nhận có hành vi vi phạm đúng như trong biên bản. Như vậy, dù bạn bạn chỉ bị lỗi không mang theo giấy tờ nhưng vẫn bị xử phạt theo lỗi không có giấy tờ như bạn đã ký nhận trong biên bản.
 
Nếu như bạn xác minh ngày từ đầu là bạn không mang, biên bản xử phạt với lỗi không có là không chính xác thì bạn có thể phản ánh với cảnh sát giao thông ngay tại thời điểm lập biên bản thì bạn chỉ bị xử phạt với lỗi không mang giấy tờ.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Thư viện pháp luật | 23/11/2017 07:18

Từ tháng 1/2018, người đi bộ sai luật có nguy cơ ngồi tù 15 năm

Thư viện pháp luật | 23/11/2017 07:18

PhapluatNet Bộ luật Hình sự 2015 được đổi mới và bổ sung nội dung đặc biệt với người đi bộ. Trong đó nhấn mạnh nguy cơ bị ngồi tù tới 15 năm dành cho người đi bộ sai luật khi tham gia giao thông tại Việt Nam.

Theo quy định mới của Bộ luật hình sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2018) về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260) không còn bó hẹp trong phạm vi những người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ, mà còn được mở rộng ra về người nào tham gia giao thông đường bộ.

Như vậy, phạm vi người nào tham gia giao thông đường bộ bao gồm cả phạm vi là người đi bộ.

Theo đó, nếu người đi bộ băng qua đường (là nguyên nhân chính) dẫn đến tai nạn giao thông gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng theo khoản 3, Điều 260 của Bộ luật Hình sự mới nhất năm 2015 thì cũng đối diện với nguy cơ bị phạt tù ở khung cao nhất là 15 năm tù giam.

Kể từ 1/1/2018, người đi bộ sai quy định sẽ đối diện mức phạt ngồi tù 15 năm.

Điều 260: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm:

a) Làm chết 1 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 2 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 3 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 2 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 3 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

Theo quy định tại Điều 32, Luật Giao thông đường bộ năm 2008, thì:

1. Người đi bộ phải đi trên hè phố, lề đường; trường hợp đường không có hè phố, lề đường thì người đi bộ phải đi sát mép đường. 

2. Người đi bộ chỉ được qua đường ở những nơi có đèn tín hiệu, có vạch kẻ đường hoặc có cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ và phải tuân thủ tín hiệu chỉ dẫn.

3. Trường hợp không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi bảo đảm an toàn và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường.

4. Người đi bộ không được vượt qua dải phân cách, không đu bám vào phương tiện giao thông đang chạy; khi mang vác vật cồng kềnh phải bảo đảm an toàn và không gây trở ngại cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

5. Trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường đô thị, đường thường xuyên có xe cơ giới qua lại phải có người lớn dắt; mọi người có trách nhiệm giúp đỡ trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường.

P.V (Tổng hợp)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Thư viện pháp luật | 22/11/2017 13:55

Đè vạch liền, ô tô bị xử phạt như thế nào

Thư viện pháp luật | 22/11/2017 13:55

PhapluatNet Loại vạch trên là vạch liền kẻ giữa đường, có tác dụng để phân chia làn, không áp dụng cho loại vạch liền nhưng vẽ sát lề đường hoặc sát giải phân cách để giới hạn phần xe chạy hoặc phân chia làn xe cơ giới và xe thô sơ

Theo quy chuẩn 41/2016 về báo hiệu đường bộ đã có quy định mới liên quan đến việc phân chia các làn đường.

Thời gian qua, nhiều lái xe bày tỏ quan điểm không đồng tình quy chuẩn cũ năm 2012 vì báo hiệu đường bộ không có mục nào nói đến vạch liền phân chia các làn đường trong cùng một chiều, chỉ có vạch liền phân chia hai chiều ngược nhau nhưng vẫn bị CSGT thổi phạt khi đè lên vạch (trường hợp không chuyển làn). Quy định không rõ ràng này gây ra tình trạng tranh cãi nhiều năm qua giữa tài xế và CSGT.

Đè vạch liền, ô tô bị xử phạt như thế nào

Nói về vấn đề này, ông Vũ Ngọc Lăng, Vụ trưởng Vụ ATGT (Tổng cục Đường bộ VN) cho hay, đúng là quy định về tác dụng của vạch kẻ đường, biển báo trong quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về báo hiệu đường bộ QCVN 41:2012/BGTVT được không ít người quan tâm.

Theo ông Lăng, quy định cũ vào năm 2012 về báo hiệu đường bộ chưa nói đến vạch liền phân chia các làn đường trong cùng một chiều mà chỉ nói đến vạch liền phân chia hai chiều ngược nhau. Nhưng trên thực tế, đặc biệt tại con đường nơi giao nhau thường kẻ vạch liền trắng, chiều rộng 15 cm với ý nghĩa phân tách các làn đường, các phương tiện không được đè vạch hay chuyển làn qua vạch.

Quy chuẩn mới 41/2016 có hiệu lực thi hành từ cuối năm 2016 thay thế cho quy chuẩn 41/2012 quy định về vạch kẻ đường rõ ràng hơn khi các nhóm vạch dành cho hai chiều xe chạy và vạch dành cho xe chạy cùng chiều được tách ra một cách rõ ràng. Quy định này thể hiện rõ, vạch liền tại ngã tư sẽ xuất hiện trong quy chuẩn với tên gọi vạch 2.2, xe không được phép lấn làn và không được đè lên vạch. Nếu phương tiện nào đè vạch liền trong cùng một chiều đã là lỗi vi phạm khi tham gia giao thông có thể bị CSGT thổi phạt theo căn cứ quy chuẩn 41/2016, trừ những trường hợp bất khả kháng như nhường xe ưu tiên, tránh các tai nạn.

Loại vạch trên là vạch liền kẻ giữa đường, có tác dụng để phân chia làn, không áp dụng cho loại vạch liền nhưng vẽ sát lề đường hoặc sát giải phân cách để giới hạn phần xe chạy hoặc phân chia làn xe cơ giới và xe thô sơ. Loại vạch này được phép đè khi cần thiết.
Vạch kẻ đường khi được sử dụng độc lập thì người tham gia giao thông phải tuân theo vạch kẻ đường. Vạch kẻ đường kết hợp với đèn tín hiệu, biển báo thì người tham gia giao thông phải tuân theo ý nghĩa, hiệu lệnh của cả vạch kẻ đường và đèn tín hiệu, biển báo hiệu.

Theo điểm a Khoản 1 Điều 5 Nghị định 46 quy định: Phạt tiền từ 100.000 đến 200.000 đồng đối với người điều khiển, người được chở trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường. Cũng với hành vi vi phạm này, theo khoản 1 Điều 6 người đi xe môtô, xe gắn máy bị phạt tiền từ 60.000 - 80.000 đồng nếu xe mắc lỗi đè vạch liền.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn