AA

AA AA AA
Thư viện pháp luật | 15/08/2017 18:15

8 nhóm đối tượng nào được tăng lương hưu, phụ cấp từ hôm nay 15/8?

PhapluatNet Nghị định 76/2017/NĐ-CP về điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng sẽ có hiệu lực từ ngày 15/8, theo quy định sẽ tăng thêm 7,44% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với 8 nhóm đối tượng. 

8 nhóm đối tượng cụ thể bao gồm: 

Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định 41/2009/QĐ-TTg ngày 16/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng.

Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, Nghị định 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng.

Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 4/8/2000, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 6/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng.

8 đối tượng được tăng lương hưu và trợ cấp.

Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 130/CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng.

Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27.10.2008, Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 06/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 9/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng.

M. A (tổng hợp)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Ý kiến các bạn đọc
Hỏi đáp | 21/11/2017 15:17

Mở cửa xe ô tô gây tai nạn thì bị xử phạt như thế nào

Hỏi đáp | 21/11/2017 15:17

Hỏi:
Em tôi đi xe máy trên đường thì bất ngờ một chiếc ô tô 4 chỗ mở cửa. Do quá bất ngờ không kịp phản ứng, em tôi tông vào cánh cửa rồi ngã ra đường và bị thương nặng. Tôi muốn hỏi người mở cửa ô tô có phạm tội không? Nếu có thì bị xử phạt như thế nào?

Đáp:
Việc mở cửa khi dừng, đỗ xe trên đường bộ phải tuân thủ quy định về luật an toàn giao thông đường bộ. Theo khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ quy định rõ: Người điều khiển phương tiện khi dừng, đỗ xe phải tuân thủ các quy định sau: Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn.

Ảnh minh họa

Nếu vi phạm thì sẽ bị xử lý theo điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP với mức phạt từ 300.000 - 400.000 đồng. Ngoài ra, nếu người thực hiện hành vi trên mà gây tai nạn cho người khác thì sẽ bị tước bằng lái xe từ 2 đến 4 tháng.

Còn nếu hậu quả nghiêm trọng như: tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản giá trị từ 70 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng…hoặc gây ra chết người thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại Điều 202 BLHS 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Theo đó, người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại đến tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm.

Trường hợp xảy ra tai nạn ngoài ý muốn do lỗi của người mở cửa xe thì người này phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình đã gây ra. Đây ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự 2005. Theo đó, người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại các khoản chi phí sau:

- Chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị giảm sút hoặc bị mất của người bị thiệt hại.

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại trong thời gian chờ phục hồi; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định hay không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.

- Nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

- Chi phí bù đắp về mặt tinh thần cho người bị thiệt hại. Mức bồi thường về tinh thần do các bên tự thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức đền bù tổn thất tối đa là không quá 30 tháng lương tối thiểu do Luật định. 

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Thư viện pháp luật | 21/11/2017 09:00

Cần phải làm gì khi nghi ngờ tính chính xác của máy đo tốc độ

Thư viện pháp luật | 21/11/2017 09:00

PhapluatNet Việc quản lý, sử dụng thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát giao thông được quy định rất chặt chẽ. Thời gian qua, trên mạng xã hội có phản ánh của một số lái xe về việc họ nghi ngờ sự chính xác của máy đo tốc độ của lực lượng CSGT.

Vậy việc quản lý, sử dụng máy đo tốc độ được thực hiện như thế nào và nếu có nghi ngờ kết quả thì khiếu nại đến đâu?

Theo quy định, cán bộ, chiến sỹ CSGT được giao nhiệm vụ sử dụng thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải thực hiện theo đúng quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định số 165/2013/NĐ-CP và chịu trách nhiệm về việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ này. Trong đó, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ cần phải bảo đảm theo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan có thẩm quyền đã quy định.

Sử dụng máy đo tốc độ
Ảnh minh họa

Kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ chỉ được sử dụng để xử phạt như: Được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ đảm bảo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và phải được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo đúng quy định pháp luật; Thu thập thông tin theo đúng quy trình, thủ tục...

Như vậy việc quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ của lực lượng CSGT được quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo tính chính xác, công khai, minh bạch.

Với trường hợp người vi phạm giao thông thắc mắc kết quả đo tốc độ của CSGT không chính xác, việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo đúng Luật Khiếu nại, Thông tư 68/2013/TT-BCA, Thông tư 11/2015 của Bộ Công an quy định quy trình giải quyết khiếu nại trong ngành CAND.

Theo đó, khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị Công an của cấp nào thì cán bộ xử lý đề xuất Thủ trưởng cơ quan, đơn vị công an cấp đó thụ lý giải quyết theo quy định.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Thư viện pháp luật | 20/11/2017 16:11

Mức xử phạt khi không bật xi nhan theo quy định

Thư viện pháp luật | 20/11/2017 16:11

PhapluatNet Luật Giao thông đường bộ quy định các trường hợp phải bật đèn xi nhan bao gồm chuyển làn đường; rẽ phải, rẽ trái, quay đầu; vượt xe khác; cho xe chuyển bánh từ vị trí đậu hoặc tấp xe vào lề đường.

Khi xe đi theo đường cong, người điều khiển xe cua theo đường cong (không phải ngã rẽ, chuyển hướng, chuyển làn) thì vẫn được xem là đang đi trên một đoạn đường thẳng, theo một hướng, không gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông thì không bắt buộc bật đèn tín hiệu.

Mức xử phạt khi không bật xi nhan theo quy định

Vậy, nếu đang lưu hành trên cung đường cong thì người điều khiển phương tiện không cần phải bật xi nhan.

Tuy nhiên, ở một số trường hợp khác, cần phải chú ý để đi đúng luật, cụ thể như: Khi đi vào vòng xuyến thì bật xi nhan trái, khi ra khỏi thì bật xi nhan phải; đi qua ngã 3 chữ Y: Nếu có biển báo ngã rẽ thì bật đèn tín hiệu như bình thường, nếu không có biển báo mà đi thẳng theo nhánh bên phải thì không cần xi nhan.

Dưới đây là một số mức phạt về hành vi vi phạm bật đèn xi nhan khi tham gia giao thông theo Nghị định 46/2016.

Đối với người điều khiển ô tô, người ngồi trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô:

- Phạt tiền từ 300.000 - 400.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi chuyển làn đường không đúng nơi cho phép hoặc không có tín hiệu đèn báo trước.

- Phạt tiền từ 600.000 - 800.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ.

- Phạt tiền từ 800.000 - 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe chuyển làn đường không đúng nơi cho phép hoặc không có tín hiệu báo trước khi chạy xe trên đường cao tốc.

Đối với người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy (kể cả xe máy điện), thì phạt tiền từ 80.000 - 100.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước; phạt tiền từ 300.000 đồng - 400.000 đồng đối với một trong các hành vi chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ (trừ trường hợp điều khiển xe đi theo hướng cong của đoạn đường bộ ở nơi đường không giao nhau cùng mức).
 

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Hỏi đáp | 20/11/2017 13:40

Mức xử phạt xe máy không gương, gương không đúng quy định

Hỏi đáp | 20/11/2017 13:40

PhapluatNet Theo quy định của Luật Giao thông, phạt tiền từ 80.000 - 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Điều khiển xe không có còi; đèn soi biển số; đèn báo hãm; gương chiếu hậu bên trái người điều khiển hoặc có nhưng không có tác dụng.

Câu hỏi độc giả: "Khi lưu thông trên đường phố, tôi thấy rất nhiều người điều khiển xe máy không lắp gương hoặc nếu có lắp thì chỉ lắp một bên. Đó là chưa nói đến việc nhiều xe lắp gương thời trang hoặc chỉ lắp một gương.

Vậy cho tôi hỏi những trường hợp như vậy có vi phạm luật giao thông không? Mức xử phạt lỗi không gương là bao nhiêu?".

Luật sư trả lời: 

Theo điều 53 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định xe gắn máy phải "có đủ gương chiếu hậu và các trang bị khác bảo đảm tầm nhìn cho người điều khiển". 

Bên cạnh đó, điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định 46/2016/NĐ - CP ngày 28/5/2016 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có quy định chế tài cụ thể như sau: "Xử phạt người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy ( kể cả xe điện) vi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông.


Theo đó, phạt tiền từ 80.000 - 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Điều khiển xe không có còi; đèn soi biển số; đèn báo hãm; gương chiếu hậu bên trái người điều khiển hoặc có nhưng không có tác dụng.

Luật giao thông đường bộ đã quy định phải có đủ 2 gương nhưng chỉ quy định chế tài xử phạt nếu như không có gương bên trái.

Theo đó, cảnh sát giao thông chỉ được quyền phạt khi xe gắn máy thiếu gương bên trái hoặc có gương bên trái nhưng không có tác dụng (tức gương không đạt tiêu chuẩn) với mức phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng.

Tiêu chuẩn của gương chiếu hậu:

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 28:2010/BGTVT về gương chiếu hậu của xe mô tô, xe gắn máy, có một số chi tiết có thể dễ dàng xác định mà không cần dùng phương tiện kỹ thuật như:

- Gương có tác dụng phản xạ.

- Tất cả các gương điều chỉnh được vùng quan sát; Mép của bề mặt gương phải nằm trong vỏ bảo vệ và mép của vỏ bảo vệ phải có bán kính cong "c" có giá trị không nhỏ hơn 2,5 mm tại mọi điểm và theo mọi hướng. 

- Về kích thước: Diện tích của bề phản xạ không được nhỏ hơn 69cm2. Với trường hợp gương chiếu hậu hình tròn, đường kính của bề mặt phản xạ không được nhỏ hơn 94mm và không được lớn hơn 150mm. Trường hợp gương không tròn kích thước của bề mặt phản xạ phải đủ lớn để chứa được một hình tròn nội tiếp có đường kính 78 mm, nhưng phải nằm được trong một hình chữ nhật có kích thước 120 mm x 200 mm.

Như vậy, không có quy định cấm hoặc xử phạt người sử dụng "gương thời trang" hay "gương cầu", "gương không theo xe". Nếu gương chiếu hậu của bạn đạt các tiêu chuẩn nêu trên thì cảnh sát giao thông không có quyền xử phạt về lỗi này. 

Tuy nhiên, trên thực tế thì "gương cầu" thường có đường kính của bề mặt phản xạ nhỏ hơn 94mm nên nếu cảnh sát giao thông chặn xe và phạt vì lỗi gương không đúng quy định là có căn cứ.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn