AA

AA AA AA
Hỏi đáp | 17/10/2017 16:04

Xác định tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân?

PhapluatNet Làm thế nào để xác định tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân? Việc sử dụng tài sản riêng được quy định như thế nào? Tôi có mảnh đất bố mẹ tặng trước khi kết hôn, vậy sau khi kết hôn có cần nhập vào tài sản chung của vợ chồng không?

Căn cứ vào Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này”.

Ngoài ra, tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy, tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân tức là tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn hoặc được tặng riêng sau khi kết hôn. Như bạn nói có một miếng đất được bố mẹ tặng trước khi kết hôn là thuộc về tài sản riêng của bạn, còn có muốn nhập vào tài sản chung hay không là do bạn quyết định.

Cách xác định tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân.

Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung

“1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.

3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Với câu hỏi, sử dụng tài sản riêng đó thế nào? Căn cứ vào Điều 44 của Luật Hôn nhân và gia đình có quy định về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng như sau:

“1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ”.

M. Tuệ (Tổng hợp)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Ý kiến các bạn đọc
Thư viện pháp luật | 24/11/2017 16:00

Xử phạt lỗi xe chạy quá tốc độ

Thư viện pháp luật | 24/11/2017 16:00

PhapluatNet Lỗi vi phạm chạy quá tốc độ là lỗi thường gặp nhất đối với những người điều khiển các phương tiện giao thông. Chỉ cần nhích ga nhẹ một chút thì các phương tiện hoàn toàn có thể đã vượt quá tốc độ cho phép.

Hiện nay có không ít tài xế ô tô, xe máy còn rất băn khoăn về lỗi chạy quá tốc độ cho phép đối với các phương tiện và mức phạt cụ thể khi vi phạm? Hãy cùng xem lời giải đáp dưới đây:

1. Với mô tô - xe gắn máy

Luật Giao thông đường bộ quy định người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ về tốc độ xe chạy trên đường, nghiêm cấm hành vi điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định. Nếu vi phạm, người điều khiển sẽ bị xử lý theo Nghị định số 171/2013/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

Xử phạt lỗi chạy quá tốc độ
Ảnh minh họa

Cụ thể, Điều 6 của Nghị định này quy định rõ, người điều khiển xe máy chạy quá tốc độ quy định nhưng chưa gây tai nạn giao thông, đi thành nhóm hay rượt đuổi nhau trên đường thì chỉ bị xử phạt khi chạy quá tốc độ quy định từ 5 km/h trở lên. Các mức phạt đối với từng trường hợp được quy định cụ thể:

- Phạt từ 100.000 - 200.000 đồng nếu điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 5km/h đến dưới 10km/h

- Phạt từ 500.000 - 1.000.000 đồng nếu điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến dưới 20 km/h

-  Phạt từ 2.000.000 - 3.000.000 đồng nếu điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 20 km/h trở lên.

2. Đối với xe ô tô

Luật Giao thông đường bộ nghiêm cấm hành vi điều khiển xe ô tô, xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định. Nếu vi phạm, người điều khiển xe sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 171/2013/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

Mức phạt với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô, xe cơ giới thực hiện hành vi vi phạm chạy quá tốc độ được quy định cụ thể như sau:

-  Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h bị phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng.

- Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến dưới 20 km/h bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

- Điều khiển xe quá tốc độ quy định từ 20 km/h đến dưới 35 km/h thì bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng, đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong vòng 01 tháng.

- Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 35 km/h thì bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng, đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong vòng 02 tháng.

(Tổng hợp)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Thư viện pháp luật | 23/11/2017 14:32

Xử phạt phương tiện đi vào làn xe buýt nhanh BRT

Thư viện pháp luật | 23/11/2017 14:32

Việc đi các phương tiện ô tô, xe máy vào phần đường của BRT chính là lỗi “đi không đúng phần đường hoặc làn đường theo quy định”. 

Với ô tô: Điểm c Khoản 4 Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định rõ về Xử phạt người điều khiển, người được chở trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ: “Phạt tiền từ 800.000 - 1.200.000 đồng, đối với người điều khiển xe đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định”.

Đối với xe máy: Điểm g Khoản 4 Điều 6 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định rõ về xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy kể cả xe máy điện), vi phạm quy tắc giao thông đường bộ: “Phạt tiền từ 300.000 - 400.000 đồng đối với hành vi đi không đúng phần đường, làn đường quy định”.

Ảnh minh họa

Đối với phương tiện như máy kéo, xe chuyên dùng: Điểm c Khoản 3 Điều 7 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng (sau đây gọi chung là xe) vi phạm quy tắc giao thông đường bộ: “Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định, (trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm d Khoản 4 Điều này).

Đi vào làn xe buýt nhanh BRT. Không tuân thủ các quy định khi vào, ra đường cao tốc; điều khiển xe chạy ở làn dừng xe khẩn cấp hoặc phần lề của đường cao tốc; quay đầu, lùi xe trên đường cao tốc; chuyển làn đường sai phép hoặc không có tín hiệu báo trước; không tuân thủ quy định về khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước khi chạy trên đường cao tốc”.

Đối với xe đạp: Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 8 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác vi phạm quy tắc giao thông đường bộ (đi vào phần đường của BRT): “Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 60.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây đi không đúng phần đường quy định”.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Hỏi đáp | 23/11/2017 09:20

Xử phạt lỗi không mang giấy tờ xe và không có giấy tờ xe

Hỏi đáp | 23/11/2017 09:20

PhapluatNet Người điều khiển xe mô tô xe gắn máy, các loại xe tương tự như xe mô tô và các loại xe tương tự như xe gắn máy phải mang theo Giấy phép lái xe khi tham gia giao thông...

Câu hỏi: 
Em đi xe máy đi công việc nhưng lại quên không mang giấy tờ xe. Bị CSGT thổi phạt lập biên bản vi phạm hành chính về lỗi không có giấy phép lái xe, lỗi không có giấy đăng ký xe, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và hẹn 07 ngày sau đến trụ sở làm việc.

Tuy nhiên do bận việc nên 10 ngày sau em mới đến cơ quan Công an để giải quyết, em có trình giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe, bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo yêu cầu tuy nhiên vẫn bị CSGT xử phạt lỗi không có giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe, bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Em có thắc mắc là tại sao bị xử lý là lỗi không có, trong khi đó em chỉ quên không mang theo, CSGT giải thích bảo theo Nghị định 171/2013/NĐ-CP. Em có tìm hiểu nhưng không thấy quy định nào như vậy, xin hỏi CSGT xử phạt như vậy có đúng không? 

Xử phạt lỗi không mang giấy tờ xe
(Ảnh minh họa)

Trả lời tư vấn:

Căn cứ theo quy định tại nghị định 171/2013/NĐ-CP, lỗi không mang giấy phép lái xe, đăng ký xe và bảo hiểm trách nhiệm dân sự khác hoàn toàn với lỗi không có giấy phép lái xe, đăng ký xe và bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Tại điều 5 nghị định 171/2013/NĐ-CP có quy định cụ thể:

- Phạt tiền từ 80.000 - 120.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

+ Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự như xe mô tô và các loại xe tương tự như xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

+ Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự như xe mô tô và các loại xe tương tự như xe gắn máy không mang theo Giấy đăng ký xe;

+  Người điều khiển xe mô tô xe gắn máy, các loại xe tương tự như xe mô tô và các loại xe tương tự như xe gắn máy không mang theo Giấy phép lái xe...

- Phạt tiền từ 800.000 - 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe hoặc Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp phép, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa thông tin, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 7.

Trường hợp trên bạn không mang các giấy tờ xe khi tham gia giao thông nhưng khi CSGT lại lập biên bản vi phạm hành chính về lỗi không có giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe, bảo hiểm trách nhiệm dân sự nhưng bạn vẫn ký. Việc bạn ký vào biên bản chính là xác nhận có hành vi vi phạm đúng như trong biên bản. Như vậy, dù bạn bạn chỉ bị lỗi không mang theo giấy tờ nhưng vẫn bị xử phạt theo lỗi không có giấy tờ như bạn đã ký nhận trong biên bản.
 
Nếu như bạn xác minh ngày từ đầu là bạn không mang, biên bản xử phạt với lỗi không có là không chính xác thì bạn có thể phản ánh với cảnh sát giao thông ngay tại thời điểm lập biên bản thì bạn chỉ bị xử phạt với lỗi không mang giấy tờ.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Thư viện pháp luật | 23/11/2017 07:18

Từ tháng 1/2018, người đi bộ sai luật có nguy cơ ngồi tù 15 năm

Thư viện pháp luật | 23/11/2017 07:18

PhapluatNet Bộ luật Hình sự 2015 được đổi mới và bổ sung nội dung đặc biệt với người đi bộ. Trong đó nhấn mạnh nguy cơ bị ngồi tù tới 15 năm dành cho người đi bộ sai luật khi tham gia giao thông tại Việt Nam.

Theo quy định mới của Bộ luật hình sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2018) về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260) không còn bó hẹp trong phạm vi những người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ, mà còn được mở rộng ra về người nào tham gia giao thông đường bộ.

Như vậy, phạm vi người nào tham gia giao thông đường bộ bao gồm cả phạm vi là người đi bộ.

Theo đó, nếu người đi bộ băng qua đường (là nguyên nhân chính) dẫn đến tai nạn giao thông gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng theo khoản 3, Điều 260 của Bộ luật Hình sự mới nhất năm 2015 thì cũng đối diện với nguy cơ bị phạt tù ở khung cao nhất là 15 năm tù giam.

Kể từ 1/1/2018, người đi bộ sai quy định sẽ đối diện mức phạt ngồi tù 15 năm.

Điều 260: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm:

a) Làm chết 1 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 2 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 3 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 2 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 3 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

Theo quy định tại Điều 32, Luật Giao thông đường bộ năm 2008, thì:

1. Người đi bộ phải đi trên hè phố, lề đường; trường hợp đường không có hè phố, lề đường thì người đi bộ phải đi sát mép đường. 

2. Người đi bộ chỉ được qua đường ở những nơi có đèn tín hiệu, có vạch kẻ đường hoặc có cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ và phải tuân thủ tín hiệu chỉ dẫn.

3. Trường hợp không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi bảo đảm an toàn và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường.

4. Người đi bộ không được vượt qua dải phân cách, không đu bám vào phương tiện giao thông đang chạy; khi mang vác vật cồng kềnh phải bảo đảm an toàn và không gây trở ngại cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

5. Trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường đô thị, đường thường xuyên có xe cơ giới qua lại phải có người lớn dắt; mọi người có trách nhiệm giúp đỡ trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường.

P.V (Tổng hợp)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn