AA

AA AA AA
Hỏi đáp | 06/07/2017 16:34

Phá thai trong trường hợp nào thì phạm pháp?

PhapluatNet Em với bạn trai quan hệ tình dục và trót có thai, khi biết giới tính là con gái bạn trai bắt em đi nạo thai. Em muốn hỏi luật sư có trường hợp nào pháp luật cấm hành vi phá thai không?

Năm nay em đang là sinh viên năm nhất đại học, còn bạn trai đang học năm thứ 3 đại học, em với bạn trai có quan hệ tình dục nhiều lần quên không dùng biện pháp nên có thai. Mới đầu khi em thông báo cho bạn trai là mình đã có thai thì anh ấy bảo cưới, nhưng khi thai bắt đầu lớn em đi siêu âm ra kết quả con gái anh ấy đã bắt em đi phá. Em đã không đồng ý vì giờ thai đã được 4 tháng, em sợ ảnh hưởng đến khả năng sinh đẻ của mình sau này. Với cả em thấy làm như vậy rất tội lỗi. Mặc dù vậy nhưng em vẫn muốn hỏi luật sư có trường hợp nào pháp luật cấm hành vi phá thai không?

Mai Liên (SV tại Hà Nội)

Ảnh mang tính minh họa: Internet.

Cuộc sống hiện đại đã không ít bạn trẻ cũng phải gặp tình huống tương tự như bạn, nhưng xét trước khi quyết định bạn nên cân nhắc thật kỹ. Đúng như bạn nói, phá thai sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh đẻ của bạn sau này. Không chỉ vậy, việc phá thai còn ảnh hưởng đến sức khỏe. 

Phá thai thực chất là loại bỏ hay lấy thai nhi ra khỏi tử cung trước khi đến hạn sinh nở. Ở Việt Nam hiện nay các quy định về nạo, phá thai chủ yếu liên quan đến chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình. 

Tại Điều 7, Pháp lệnh Dân số năm 2003 quy định các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: Cản trở, cưỡng bức việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình; Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức; Sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, cung cấp phương tiện tránh thai giả, không bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, quá hạn sử dụng, chưa được phép lưu hành…

Điều 10, Pháp lệnh Dân số cũng nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi, bao gồm: Tuyên truyền, phổ biến phương pháp tạo giới tính thai nhi; Chẩn đoán để lựa chọn giới tính thai nhi bằng các biện pháp; Loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính bằng các biện pháp phá thai, cung cấp, sử dụng các loại hóa chất, thuốc và các biện pháp khác.

Như vậy, có thể thấy, pháp luật nước ta có quy định cấm hành vi phá thai vì lý do giới tính của thai nhi, để tránh tình trạng dân số không cân đối giữa các giới tính. Do vậy, nếu bạn vi phạm quy định trên thì sẽ bị xử phạt hành chính theo Điều 84, Nghị định số 176/2013/NĐ-CP: Phạt tiền từ 3-5 triệu đồng với hành vi loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính của người mang thai mà không bị ép buộc phải loại bỏ thai nhi.

N.H (t/h)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Ý kiến các bạn đọc
Hỏi đáp | 20/11/2017 13:40

Mức xử phạt xe máy không gương, gương không đúng quy định

Hỏi đáp | 20/11/2017 13:40

PhapluatNet Theo quy định của Luật Giao thông, phạt tiền từ 80.000 - 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Điều khiển xe không có còi; đèn soi biển số; đèn báo hãm; gương chiếu hậu bên trái người điều khiển hoặc có nhưng không có tác dụng.

Câu hỏi độc giả: "Khi lưu thông trên đường phố, tôi thấy rất nhiều người điều khiển xe máy không lắp gương hoặc nếu có lắp thì chỉ lắp một bên. Đó là chưa nói đến việc nhiều xe lắp gương thời trang hoặc chỉ lắp một gương.

Vậy cho tôi hỏi những trường hợp như vậy có vi phạm luật giao thông không? Mức xử phạt lỗi không gương là bao nhiêu?".

Luật sư trả lời: 

Theo điều 53 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định xe gắn máy phải "có đủ gương chiếu hậu và các trang bị khác bảo đảm tầm nhìn cho người điều khiển". 

Bên cạnh đó, điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định 46/2016/NĐ - CP ngày 28/5/2016 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có quy định chế tài cụ thể như sau: "Xử phạt người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy ( kể cả xe điện) vi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông.


Theo đó, phạt tiền từ 80.000 - 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Điều khiển xe không có còi; đèn soi biển số; đèn báo hãm; gương chiếu hậu bên trái người điều khiển hoặc có nhưng không có tác dụng.

Luật giao thông đường bộ đã quy định phải có đủ 2 gương nhưng chỉ quy định chế tài xử phạt nếu như không có gương bên trái.

Theo đó, cảnh sát giao thông chỉ được quyền phạt khi xe gắn máy thiếu gương bên trái hoặc có gương bên trái nhưng không có tác dụng (tức gương không đạt tiêu chuẩn) với mức phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng.

Tiêu chuẩn của gương chiếu hậu:

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 28:2010/BGTVT về gương chiếu hậu của xe mô tô, xe gắn máy, có một số chi tiết có thể dễ dàng xác định mà không cần dùng phương tiện kỹ thuật như:

- Gương có tác dụng phản xạ.

- Tất cả các gương điều chỉnh được vùng quan sát; Mép của bề mặt gương phải nằm trong vỏ bảo vệ và mép của vỏ bảo vệ phải có bán kính cong "c" có giá trị không nhỏ hơn 2,5 mm tại mọi điểm và theo mọi hướng. 

- Về kích thước: Diện tích của bề phản xạ không được nhỏ hơn 69cm2. Với trường hợp gương chiếu hậu hình tròn, đường kính của bề mặt phản xạ không được nhỏ hơn 94mm và không được lớn hơn 150mm. Trường hợp gương không tròn kích thước của bề mặt phản xạ phải đủ lớn để chứa được một hình tròn nội tiếp có đường kính 78 mm, nhưng phải nằm được trong một hình chữ nhật có kích thước 120 mm x 200 mm.

Như vậy, không có quy định cấm hoặc xử phạt người sử dụng "gương thời trang" hay "gương cầu", "gương không theo xe". Nếu gương chiếu hậu của bạn đạt các tiêu chuẩn nêu trên thì cảnh sát giao thông không có quyền xử phạt về lỗi này. 

Tuy nhiên, trên thực tế thì "gương cầu" thường có đường kính của bề mặt phản xạ nhỏ hơn 94mm nên nếu cảnh sát giao thông chặn xe và phạt vì lỗi gương không đúng quy định là có căn cứ.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Hỏi đáp | 19/11/2017 11:29

Đi chơi ngủ qua đêm nhà họ hàng có phải đăng ký tạm trú không?

Hỏi đáp | 19/11/2017 11:29

PhapluatNet Cuối tuần tôi hay qua phòng trọ chị họ chơi và ngủ qua đêm luôn, như vậy tôi có phải đăng ký tạm trú không? Những trường hợp nào phải đăng ký tạm trú?

Đăng ký tạm trú

Điều 30 Luật cư trú 2006 về việc đăng ký tạm trú thì:

1. Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký tạm trú, cấp sổ tạm trú cho họ.

2. Người đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa phương đó thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày đến phải đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn.

3. Người đến đăng ký tạm trú phải xuất trình giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn nơi người đó đã đăng ký thường trú; giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở đó; nộp phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, bản khai nhân khẩu; trường hợp chỗ ở hợp pháp là nhà do thuê, mượn hoặc ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản.

4. Trưởng Công an xã, phường, thị trấn trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều này phải cấp sổ tạm trú theo mẫu quy định của Bộ Công an.

Sổ tạm trú được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký tạm trú, có giá trị xác định nơi tạm trú của công dân và không xác định thời hạn.

Việc điều chỉnh thay đổi về sổ tạm trú được thực hiện theo quy định tại Điều 29 của Luật này. Sổ tạm trú bị hư hỏng thì được đổi, bị mất thì được cấp lại. Trường hợp đến tạm trú tại xã, phường, thị trấn khác thì phải đăng ký lại.

5. Trường hợp người đã đăng ký tạm trú nhưng không sinh sống, làm việc, lao động, học tập từ sáu tháng trở lên tại địa phương đã đăng ký tạm trú thì cơ quan đã cấp sổ tạm trú phải xoá tên người đó trong sổ đăng ký tạm trú.

Ảnh minh họa.

Báo lưu trú

Theo Điều 31 Luật cư trú năm 2006 sửa đổi bổ sung năm 2013 có quy định về lưu trú và thông báo lưu trú như sau:

“1. Lưu trú là việc công dân ở lại trong một thời gian nhất định tại địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn ngoài nơi cư trú của mình và không thuộc trường hợp phải đăng ký tạm trú

2. Đại diện gia đình, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở khác khi có người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn; trường hợp người đến lưu trú tại nhà ở của gia đình, nhà ở tập thể mà chủ gia đình, nhà ở tập thể đó không đăng ký thường trú tại địa bàn xã, phường, thị trấn đó thì người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trực tiếp hoặc bằng điện thoại hoặc qua mạng Internet, mạng máy tính. Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thông báo địa điểm, địa chỉ mạng Internet, địa chỉ mạng máy tính, số điện thoại nơi tiếp nhận thông báo lưu trú cho nhân dân biết.

3. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 23h, nếu người đến lưu trú sau 23h thì thông báo lưu trú vào sáng ngày hôm sau; trường hợp ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em ruột đến lưu trú nhiều lần thì chỉ cần thông báo lưu trú một lần.

4. Việc thông báo lưu trú được ghi vào sổ tiếp nhận lưu trú.”

Như vậy, nghĩa là việc bạn đến phòng chị họ chơi và ngủ qua đêm không về, theo quy định của Luật cư trú thì bạn chỉ cần thông báo lưu trú mà không cần phải đăng ký tạm trú.

Phạt nếu không báo lưu trú

Còn nếu không thông báo lưu trú và vô tình bị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thì người chị họ của bạn có thể bị phạt 100.000-300.000 đồng.

Cụ thể, theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì mức xử phạt được xác định như sau:

“Phạt tiền từ 100.000 - 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Cá nhân, chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú hoặc điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú;

b) Cá nhân, chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng;

c) Không chấp hành việc kiểm tra hộ khẩu, kiểm tra tạm trú, kiểm tra lưu trú hoặc không xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.”

M. Tuệ (Tổng hợp)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Thư viện pháp luật | 18/11/2017 10:20

Mức phạt vi phạm giao thông đi xe máy lên vỉa hè

Thư viện pháp luật | 18/11/2017 10:20

PhapluatNet Vào giờ cao điểm tại các thành phố lớn, do bị tắc đường nên không ít người đã tự ý đi xe máy lên vỉa hè và bị cảnh sát giữ xe hoặc xử phạt. Vậy hành vi đi xe trên vỉa hè có phải là hành vi vi phạm luật giao thông hay không và và mức phạt là bao nhiêu?

Theo khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã quy định, người tham gia giao thông phải đi về bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống đèn, biển báo hiệu đường bộ.

Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định về mức xử phạt vi phạm giao thông đường bộ và đường sắt, tại Khoản 4 của Điều 6, xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy từ 300.000 - 400.000 đồng khi thực hiện hành vi vi phạm sau đây:

đi xe máy trên vỉa hè

+  Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi; đi không đúng phần đường, làn đường đã quy định hoặc điều khiển xe đi trên vỉa hè, trừ trường hợp như điều khiển xe đi qua hè phố để vào trong nhà.

+ Theo điểm c khoản 12 Điều 6 Nghị định này, nếu thực hiện hành vi đi xe máy trên vỉa hè mà gây tai nạn giao thông thì ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe còn bị áp dụng các hình thức xử phạt khác là tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 2 đến 4 tháng.

Căn cứ theo các quy định trên, nếu đi trên vỉa hè sẽ bị lực lượng chức năng xử phạt từ 300.000 - 400.000 đồng; nếu gây tai nạn, ngoài phạt tiền sẽ bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 2 đến 4 tháng.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Thư viện pháp luật | 17/11/2017 15:03

Mức phạt vi phạm nồng độ cồn với người tham gia giao thông đường bộ

Thư viện pháp luật | 17/11/2017 15:03

PhapluatNet Chỉ cần trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn mà còn điều khiển các loại phương tiện tham gia giao thông thì người tham gia giao thông sẽ bị phạt ít nhất 2 triệu đồng và có thể lên tới 18 triệu đồng.

Căn cứ theo Nghị định 46/2016/NĐ-CP, các mức phạt liên quan đến hành vi vi phạm nồng độ cồn "lái xe khi đã uống rượu, bia" như sau:

1. Mức phạt nồng độ cồn với xe máy

- Phạt tiền từ 1.000.000 - 2.000.000 đồng với người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả phương tiện là xe máy điện), các loại xe tương tự như xe môtô, xe gắn máy trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 1-3 tháng.

- Phạt tiền 3.000.000-4.000.000 đồng với người điều khiển xe không chấp hành yêu cầu kiểm tra của người thi hành công vụ về ma túy, nồng độ cồn; hoặc điều khiển xe ô tô tham gia giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. Ngoài ra, người điều khiển xe còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 3-5 tháng.

2. Mức phạt nồng độ cồn đối với ô tô và các phương tiện giống ô tô

- Phạt tiền từ 2.000.000 - 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở. Bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 1-3 tháng.

- Phạt tiền từ 7.000.000 - 8.000.000 đồng đối với người điều khiển ô tô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 3-5 tháng.

- Phạt tiền từ 16.000.000 - 18.000.000 đồng đối với người điều khiển ô tô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở; hoặc không chấp hành yêu cầu kiểm tra của người thi hành công vụ về nồng độ cồn. Và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 4-6 tháng.

P.V (Tổng hợp)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn