AA

AA AA AA
Hỏi đáp | 26/05/2017 11:40

Đi xe dưới 50cc: Không cần giấy phép lái xe

PhapluatNet Điều khiển phương tiện có dung tích xi lanh dưới 50 cc thì không cần phải có giấy phép lái xe khi điều khiển phương tiện đó tham gia giao thông nhưng vẫn cần có giấy đăng kí xe và bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc cho chủ xe cơ giới.

Câu hỏi:

Tôi đang dự định mua cho con gái đang học đại học năm nhất của tôi một chiếc xem máy để cháu tiện đi học. Tôi nghe mọi người góp ý là nên mua xe dưới 50 cc đi để đảm bảo an toàn và không cần phải có giấy phép lái xe vẫn sử dụng được. Vậy tôi xin hỏi điều này có đúng không? Xe dưới 50 cc thì cần những giấy tờ gì?

Luật sư tư vấn:

Theo thông tin bạn cung cấp với PhapluatNet, sau khi gửi đến luật sư được luật sư tư vấn cho bạn như sau:

Theo quy định tại Điều 58 Luật giao thông đường bộ về Điều kiện của người lái xe tham gia giao thông thì

"1. Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khoẻ quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

Người tập lái xe ô tô khi tham gia giao thông phải thực hành trên xe tập lái và có giáo viên bảo trợ tay lái.

2. Người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ sau:

a) Đăng ký xe;

b) Giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe cơ giới quy định tại Điều 59 của Luật này;

c) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới quy định tại Điều 55 của Luật này;

d) Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới."

Tuy nhiên theo quy định tại Điều 59 Luật giao thông đường bộ thì hiện nay hệ thống lái phép lái xe chỉ áp dụng với người điều khiển mô tô hai bánh có dung tích xi lanh từ 50 cc trở lên.

Nếu phương tiện của bạn có dung tích xi lanh dưới 50 cc thì bạn không cần phải có giấy phép lái xe khi điều khiển phương tiện đó tham gia giao thông nhưng vẫn cần có giấy đăng kí xe và bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc cho chủ xe cơ giới.

Tuy nhiên, chúng tôi khuyến nghị rằng, bạn vẫn cần chú ý tuân thủ các quy định pháp luật về an toàn giao thông khi điều khiển phương tiện tránh xảy ra tai nạn cho mình cũng như những người tham gia giao thông khác.

PV

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Ý kiến các bạn đọc
Thư viện pháp luật | 22/11/2017 13:55

Đè vạch liền, ô tô bị xử phạt như thế nào

Thư viện pháp luật | 22/11/2017 13:55

PhapluatNet Loại vạch trên là vạch liền kẻ giữa đường, có tác dụng để phân chia làn, không áp dụng cho loại vạch liền nhưng vẽ sát lề đường hoặc sát giải phân cách để giới hạn phần xe chạy hoặc phân chia làn xe cơ giới và xe thô sơ

Theo quy chuẩn 41/2016 về báo hiệu đường bộ đã có quy định mới liên quan đến việc phân chia các làn đường.

Thời gian qua, nhiều lái xe bày tỏ quan điểm không đồng tình quy chuẩn cũ năm 2012 vì báo hiệu đường bộ không có mục nào nói đến vạch liền phân chia các làn đường trong cùng một chiều, chỉ có vạch liền phân chia hai chiều ngược nhau nhưng vẫn bị CSGT thổi phạt khi đè lên vạch (trường hợp không chuyển làn). Quy định không rõ ràng này gây ra tình trạng tranh cãi nhiều năm qua giữa tài xế và CSGT.

Đè vạch liền, ô tô bị xử phạt như thế nào

Nói về vấn đề này, ông Vũ Ngọc Lăng, Vụ trưởng Vụ ATGT (Tổng cục Đường bộ VN) cho hay, đúng là quy định về tác dụng của vạch kẻ đường, biển báo trong quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về báo hiệu đường bộ QCVN 41:2012/BGTVT được không ít người quan tâm.

Theo ông Lăng, quy định cũ vào năm 2012 về báo hiệu đường bộ chưa nói đến vạch liền phân chia các làn đường trong cùng một chiều mà chỉ nói đến vạch liền phân chia hai chiều ngược nhau. Nhưng trên thực tế, đặc biệt tại con đường nơi giao nhau thường kẻ vạch liền trắng, chiều rộng 15 cm với ý nghĩa phân tách các làn đường, các phương tiện không được đè vạch hay chuyển làn qua vạch.

Quy chuẩn mới 41/2016 có hiệu lực thi hành từ cuối năm 2016 thay thế cho quy chuẩn 41/2012 quy định về vạch kẻ đường rõ ràng hơn khi các nhóm vạch dành cho hai chiều xe chạy và vạch dành cho xe chạy cùng chiều được tách ra một cách rõ ràng. Quy định này thể hiện rõ, vạch liền tại ngã tư sẽ xuất hiện trong quy chuẩn với tên gọi vạch 2.2, xe không được phép lấn làn và không được đè lên vạch. Nếu phương tiện nào đè vạch liền trong cùng một chiều đã là lỗi vi phạm khi tham gia giao thông có thể bị CSGT thổi phạt theo căn cứ quy chuẩn 41/2016, trừ những trường hợp bất khả kháng như nhường xe ưu tiên, tránh các tai nạn.

Loại vạch trên là vạch liền kẻ giữa đường, có tác dụng để phân chia làn, không áp dụng cho loại vạch liền nhưng vẽ sát lề đường hoặc sát giải phân cách để giới hạn phần xe chạy hoặc phân chia làn xe cơ giới và xe thô sơ. Loại vạch này được phép đè khi cần thiết.
Vạch kẻ đường khi được sử dụng độc lập thì người tham gia giao thông phải tuân theo vạch kẻ đường. Vạch kẻ đường kết hợp với đèn tín hiệu, biển báo thì người tham gia giao thông phải tuân theo ý nghĩa, hiệu lệnh của cả vạch kẻ đường và đèn tín hiệu, biển báo hiệu.

Theo điểm a Khoản 1 Điều 5 Nghị định 46 quy định: Phạt tiền từ 100.000 đến 200.000 đồng đối với người điều khiển, người được chở trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường. Cũng với hành vi vi phạm này, theo khoản 1 Điều 6 người đi xe môtô, xe gắn máy bị phạt tiền từ 60.000 - 80.000 đồng nếu xe mắc lỗi đè vạch liền.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Thư viện pháp luật | 22/11/2017 10:29

Từ 5/12 sổ đỏ sẽ ghi tên các thành viên trong gia đình

Thư viện pháp luật | 22/11/2017 10:29

PhapluatNet Mới đây, Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), theo đó sổ đỏ sẽ ghi tên các thành viên trong gia đình cùng sử dụng đất.

Trước đó, Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chỉ quy định: Hộ gia đình sử dụng đất thì ghi “Hộ ông” (hoặc “Hộ bà”), sau đó ghi họ tên, năm sinh, tên và số của giấy tờ nhân thân của chủ hộ gia đình như quy định tại Điểm a Khoản này; địa chỉ thường trú của hộ gia đình.

Trường hợp chủ hộ gia đình không có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi người đại diện là thành viên khác của hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình.

Trường hợp chủ hộ gia đình hay người đại diện khác của hộ gia đình có vợ hoặc chồng cùng có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi cả họ tên, năm sinh của người vợ hoặc chồng đó.

Sổ đỏ sẽ ghi tên các thành viên trong gia đình.

Cụ thể, tại Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT của Bộ TN&MT sửa đổi, bổ sung Điểm c Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT (ngày 19/5/2014) quy định:

“Đối với hộ gia đình sử dụng đất thể hiện các thông tin “Hộ gia đình, gồm ông” (hoặc “Hộ gia đình, gồm bà”), sau đó ghi họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân của chủ hộ gia đình như quy định tại Điểm a Khoản này; địa chỉ thường trú của hộ gia đình. Trường hợp chủ hộ gia đình không có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi người đại diện là thành viên khác của hộ gia đình và cùng có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình.

Sau đó ghi thêm “Cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất (hoặc Cùng sử dụng đất hoặc Cùng sở hữu tài sản) với … (ghi lần lượt họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân của những thành viên còn lại trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất)”.

Như vậy, Thông tư 33/2017/TT-BTNMT đã bổ sung thêm đối tượng là “những thành viên còn lại trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất” vào trong sổ đỏ.

Thông tư có hiệu lực từ ngày 5/12/2017.

M. Tuệ (Tổng hợp)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Hỏi đáp | 21/11/2017 15:17

Mở cửa xe ô tô gây tai nạn thì bị xử phạt như thế nào

Hỏi đáp | 21/11/2017 15:17

Hỏi:
Em tôi đi xe máy trên đường thì bất ngờ một chiếc ô tô 4 chỗ mở cửa. Do quá bất ngờ không kịp phản ứng, em tôi tông vào cánh cửa rồi ngã ra đường và bị thương nặng. Tôi muốn hỏi người mở cửa ô tô có phạm tội không? Nếu có thì bị xử phạt như thế nào?

Đáp:
Việc mở cửa khi dừng, đỗ xe trên đường bộ phải tuân thủ quy định về luật an toàn giao thông đường bộ. Theo khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ quy định rõ: Người điều khiển phương tiện khi dừng, đỗ xe phải tuân thủ các quy định sau: Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn.

Ảnh minh họa

Nếu vi phạm thì sẽ bị xử lý theo điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP với mức phạt từ 300.000 - 400.000 đồng. Ngoài ra, nếu người thực hiện hành vi trên mà gây tai nạn cho người khác thì sẽ bị tước bằng lái xe từ 2 đến 4 tháng.

Còn nếu hậu quả nghiêm trọng như: tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản giá trị từ 70 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng…hoặc gây ra chết người thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại Điều 202 BLHS 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Theo đó, người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại đến tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm.

Trường hợp xảy ra tai nạn ngoài ý muốn do lỗi của người mở cửa xe thì người này phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình đã gây ra. Đây ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự 2005. Theo đó, người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại các khoản chi phí sau:

- Chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị giảm sút hoặc bị mất của người bị thiệt hại.

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại trong thời gian chờ phục hồi; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định hay không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.

- Nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

- Chi phí bù đắp về mặt tinh thần cho người bị thiệt hại. Mức bồi thường về tinh thần do các bên tự thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức đền bù tổn thất tối đa là không quá 30 tháng lương tối thiểu do Luật định. 

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Thư viện pháp luật | 21/11/2017 09:00

Cần phải làm gì khi nghi ngờ tính chính xác của máy đo tốc độ

Thư viện pháp luật | 21/11/2017 09:00

PhapluatNet Việc quản lý, sử dụng thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát giao thông được quy định rất chặt chẽ. Thời gian qua, trên mạng xã hội có phản ánh của một số lái xe về việc họ nghi ngờ sự chính xác của máy đo tốc độ của lực lượng CSGT.

Vậy việc quản lý, sử dụng máy đo tốc độ được thực hiện như thế nào và nếu có nghi ngờ kết quả thì khiếu nại đến đâu?

Theo quy định, cán bộ, chiến sỹ CSGT được giao nhiệm vụ sử dụng thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải thực hiện theo đúng quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định số 165/2013/NĐ-CP và chịu trách nhiệm về việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ này. Trong đó, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ cần phải bảo đảm theo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan có thẩm quyền đã quy định.

Sử dụng máy đo tốc độ
Ảnh minh họa

Kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ chỉ được sử dụng để xử phạt như: Được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ đảm bảo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và phải được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo đúng quy định pháp luật; Thu thập thông tin theo đúng quy trình, thủ tục...

Như vậy việc quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ của lực lượng CSGT được quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo tính chính xác, công khai, minh bạch.

Với trường hợp người vi phạm giao thông thắc mắc kết quả đo tốc độ của CSGT không chính xác, việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo đúng Luật Khiếu nại, Thông tư 68/2013/TT-BCA, Thông tư 11/2015 của Bộ Công an quy định quy trình giải quyết khiếu nại trong ngành CAND.

Theo đó, khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị Công an của cấp nào thì cán bộ xử lý đề xuất Thủ trưởng cơ quan, đơn vị công an cấp đó thụ lý giải quyết theo quy định.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn