AA

AA AA AA
Hỏi đáp | 11/10/2017 18:24

Chồng đánh vợ mang thai có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

PhapluatNet Tôi có người bạn đang mang thai được 3 tháng, nhưng thường xuyên bị chồng đánh, có lần gây ra thương tích. Xin hỏi trong trường hợp này người chồng có bị coi là vi phạm pháp luật không? Có được truy cứu trách nhiệm hình sự người chồng không?

Căn cứ vào khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, các hành vi bạo lực gia đình gồm:

- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

- Cưỡng ép quan hệ tình dục;

- Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;

- Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;

- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

Như vậy, căn cứ vào quy định trên người chồng đã có hành vi đánh đập vợ là cố ý xâm hại đến sức khoẻ của thành viên gia đình là hành vi bạo lực gia đình.

Chồng đánh đập vợ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Theo quy định tại Điều 42 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định về xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình như sau:

"1. Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi bạo lực gia đình nếu bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của khoản 1 Điều này thì bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục.

3. Chính phủ quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực gia đình, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình".

Như vậy, tùy theo tính chất mức độ, vi phạm mà hành vi bạo lực gia đình có thể là hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt hành chính hoặc là hành vi được coi là tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 42 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định:

“Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, người chồng có hành vi bạo lực vợ sẽ bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất nghiêm trọng của sự việc. 

Ngoài ra, theo Điều 49 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình như sau:

"- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

- Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

+ Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

+ Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

Nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng, gây thương tích thì người chồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự 1999.

“Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

e) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

f) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân”.

M. Tuệ (Tổng hợp)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Ý kiến các bạn đọc
Thư viện pháp luật | 24/11/2017 16:00

Xử phạt lỗi xe chạy quá tốc độ

Thư viện pháp luật | 24/11/2017 16:00

PhapluatNet Lỗi vi phạm chạy quá tốc độ là lỗi thường gặp nhất đối với những người điều khiển các phương tiện giao thông. Chỉ cần nhích ga nhẹ một chút thì các phương tiện hoàn toàn có thể đã vượt quá tốc độ cho phép.

Hiện nay có không ít tài xế ô tô, xe máy còn rất băn khoăn về lỗi chạy quá tốc độ cho phép đối với các phương tiện và mức phạt cụ thể khi vi phạm? Hãy cùng xem lời giải đáp dưới đây:

1. Với mô tô - xe gắn máy

Luật Giao thông đường bộ quy định người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ về tốc độ xe chạy trên đường, nghiêm cấm hành vi điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định. Nếu vi phạm, người điều khiển sẽ bị xử lý theo Nghị định số 171/2013/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

Xử phạt lỗi chạy quá tốc độ
Ảnh minh họa

Cụ thể, Điều 6 của Nghị định này quy định rõ, người điều khiển xe máy chạy quá tốc độ quy định nhưng chưa gây tai nạn giao thông, đi thành nhóm hay rượt đuổi nhau trên đường thì chỉ bị xử phạt khi chạy quá tốc độ quy định từ 5 km/h trở lên. Các mức phạt đối với từng trường hợp được quy định cụ thể:

- Phạt từ 100.000 - 200.000 đồng nếu điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 5km/h đến dưới 10km/h

- Phạt từ 500.000 - 1.000.000 đồng nếu điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến dưới 20 km/h

-  Phạt từ 2.000.000 - 3.000.000 đồng nếu điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 20 km/h trở lên.

2. Đối với xe ô tô

Luật Giao thông đường bộ nghiêm cấm hành vi điều khiển xe ô tô, xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định. Nếu vi phạm, người điều khiển xe sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 171/2013/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

Mức phạt với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô, xe cơ giới thực hiện hành vi vi phạm chạy quá tốc độ được quy định cụ thể như sau:

-  Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h bị phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng.

- Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến dưới 20 km/h bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

- Điều khiển xe quá tốc độ quy định từ 20 km/h đến dưới 35 km/h thì bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng, đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong vòng 01 tháng.

- Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 35 km/h thì bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng, đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong vòng 02 tháng.

(Tổng hợp)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Thư viện pháp luật | 23/11/2017 14:32

Xử phạt phương tiện đi vào làn xe buýt nhanh BRT

Thư viện pháp luật | 23/11/2017 14:32

Việc đi các phương tiện ô tô, xe máy vào phần đường của BRT chính là lỗi “đi không đúng phần đường hoặc làn đường theo quy định”. 

Với ô tô: Điểm c Khoản 4 Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định rõ về Xử phạt người điều khiển, người được chở trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ: “Phạt tiền từ 800.000 - 1.200.000 đồng, đối với người điều khiển xe đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định”.

Đối với xe máy: Điểm g Khoản 4 Điều 6 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định rõ về xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy kể cả xe máy điện), vi phạm quy tắc giao thông đường bộ: “Phạt tiền từ 300.000 - 400.000 đồng đối với hành vi đi không đúng phần đường, làn đường quy định”.

Ảnh minh họa

Đối với phương tiện như máy kéo, xe chuyên dùng: Điểm c Khoản 3 Điều 7 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng (sau đây gọi chung là xe) vi phạm quy tắc giao thông đường bộ: “Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định, (trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm d Khoản 4 Điều này).

Đi vào làn xe buýt nhanh BRT. Không tuân thủ các quy định khi vào, ra đường cao tốc; điều khiển xe chạy ở làn dừng xe khẩn cấp hoặc phần lề của đường cao tốc; quay đầu, lùi xe trên đường cao tốc; chuyển làn đường sai phép hoặc không có tín hiệu báo trước; không tuân thủ quy định về khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước khi chạy trên đường cao tốc”.

Đối với xe đạp: Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 8 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác vi phạm quy tắc giao thông đường bộ (đi vào phần đường của BRT): “Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 60.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây đi không đúng phần đường quy định”.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Hỏi đáp | 23/11/2017 09:20

Xử phạt lỗi không mang giấy tờ xe và không có giấy tờ xe

Hỏi đáp | 23/11/2017 09:20

PhapluatNet Người điều khiển xe mô tô xe gắn máy, các loại xe tương tự như xe mô tô và các loại xe tương tự như xe gắn máy phải mang theo Giấy phép lái xe khi tham gia giao thông...

Câu hỏi: 
Em đi xe máy đi công việc nhưng lại quên không mang giấy tờ xe. Bị CSGT thổi phạt lập biên bản vi phạm hành chính về lỗi không có giấy phép lái xe, lỗi không có giấy đăng ký xe, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và hẹn 07 ngày sau đến trụ sở làm việc.

Tuy nhiên do bận việc nên 10 ngày sau em mới đến cơ quan Công an để giải quyết, em có trình giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe, bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo yêu cầu tuy nhiên vẫn bị CSGT xử phạt lỗi không có giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe, bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Em có thắc mắc là tại sao bị xử lý là lỗi không có, trong khi đó em chỉ quên không mang theo, CSGT giải thích bảo theo Nghị định 171/2013/NĐ-CP. Em có tìm hiểu nhưng không thấy quy định nào như vậy, xin hỏi CSGT xử phạt như vậy có đúng không? 

Xử phạt lỗi không mang giấy tờ xe
(Ảnh minh họa)

Trả lời tư vấn:

Căn cứ theo quy định tại nghị định 171/2013/NĐ-CP, lỗi không mang giấy phép lái xe, đăng ký xe và bảo hiểm trách nhiệm dân sự khác hoàn toàn với lỗi không có giấy phép lái xe, đăng ký xe và bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Tại điều 5 nghị định 171/2013/NĐ-CP có quy định cụ thể:

- Phạt tiền từ 80.000 - 120.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

+ Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự như xe mô tô và các loại xe tương tự như xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

+ Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự như xe mô tô và các loại xe tương tự như xe gắn máy không mang theo Giấy đăng ký xe;

+  Người điều khiển xe mô tô xe gắn máy, các loại xe tương tự như xe mô tô và các loại xe tương tự như xe gắn máy không mang theo Giấy phép lái xe...

- Phạt tiền từ 800.000 - 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe hoặc Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp phép, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa thông tin, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 7.

Trường hợp trên bạn không mang các giấy tờ xe khi tham gia giao thông nhưng khi CSGT lại lập biên bản vi phạm hành chính về lỗi không có giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe, bảo hiểm trách nhiệm dân sự nhưng bạn vẫn ký. Việc bạn ký vào biên bản chính là xác nhận có hành vi vi phạm đúng như trong biên bản. Như vậy, dù bạn bạn chỉ bị lỗi không mang theo giấy tờ nhưng vẫn bị xử phạt theo lỗi không có giấy tờ như bạn đã ký nhận trong biên bản.
 
Nếu như bạn xác minh ngày từ đầu là bạn không mang, biên bản xử phạt với lỗi không có là không chính xác thì bạn có thể phản ánh với cảnh sát giao thông ngay tại thời điểm lập biên bản thì bạn chỉ bị xử phạt với lỗi không mang giấy tờ.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn
Thư viện pháp luật | 23/11/2017 07:18

Từ tháng 1/2018, người đi bộ sai luật có nguy cơ ngồi tù 15 năm

Thư viện pháp luật | 23/11/2017 07:18

PhapluatNet Bộ luật Hình sự 2015 được đổi mới và bổ sung nội dung đặc biệt với người đi bộ. Trong đó nhấn mạnh nguy cơ bị ngồi tù tới 15 năm dành cho người đi bộ sai luật khi tham gia giao thông tại Việt Nam.

Theo quy định mới của Bộ luật hình sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2018) về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260) không còn bó hẹp trong phạm vi những người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ, mà còn được mở rộng ra về người nào tham gia giao thông đường bộ.

Như vậy, phạm vi người nào tham gia giao thông đường bộ bao gồm cả phạm vi là người đi bộ.

Theo đó, nếu người đi bộ băng qua đường (là nguyên nhân chính) dẫn đến tai nạn giao thông gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng theo khoản 3, Điều 260 của Bộ luật Hình sự mới nhất năm 2015 thì cũng đối diện với nguy cơ bị phạt tù ở khung cao nhất là 15 năm tù giam.

Kể từ 1/1/2018, người đi bộ sai quy định sẽ đối diện mức phạt ngồi tù 15 năm.

Điều 260: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm:

a) Làm chết 1 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 2 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 3 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 2 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 3 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

Theo quy định tại Điều 32, Luật Giao thông đường bộ năm 2008, thì:

1. Người đi bộ phải đi trên hè phố, lề đường; trường hợp đường không có hè phố, lề đường thì người đi bộ phải đi sát mép đường. 

2. Người đi bộ chỉ được qua đường ở những nơi có đèn tín hiệu, có vạch kẻ đường hoặc có cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ và phải tuân thủ tín hiệu chỉ dẫn.

3. Trường hợp không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi bảo đảm an toàn và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường.

4. Người đi bộ không được vượt qua dải phân cách, không đu bám vào phương tiện giao thông đang chạy; khi mang vác vật cồng kềnh phải bảo đảm an toàn và không gây trở ngại cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

5. Trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường đô thị, đường thường xuyên có xe cơ giới qua lại phải có người lớn dắt; mọi người có trách nhiệm giúp đỡ trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường.

P.V (Tổng hợp)

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, phản hồi thông tin bài viết gửi tới, độc giả, bạn đọc xin vui lòng gọi tới số hotline: 0965122325 hoặc gửi thư điện tử đến BBT theo email: toasoan@phapluatnet.vn